2017-04-06 00:49:07

Gần 40.000 người tự sát do trầm cảm tại Việt Nam mỗi năm

Bệnh nhân bị trầm cảm nằm điều trị tại viện Sức khoẻ tâm thần quốc gia

     Theo thông tin từ viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, bệnh viện Bạch Mai, ở Việt Nam hiện có khoảng 30% dân số có rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25%.

Trong năm 2016, viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia khám và điều trị ngoại trú 18.402 lượt bệnh nhân trầm cảm (chiếm 30%), điều trị nội trú 446 lượt bệnh nhân (chiếm 13,0%). Trung bình mỗi ngày có 50 bệnh nhân đến khám và điều trị về trầm cảm.

Mỗi năm, số người tự sát do trầm cảm ở nước ta từ 36.000 - 40.000 người. Nghiên cứu mới nhất tại viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia năm 2016, 36,5% trong số bệnh nhân từ 45 tuổi bị trầm cảm có ý tưởng hoặc hành vi tự sát. Đa số tự sát do bệnh nhân cảm thấy mình vô dụng, tội lỗi, không xứng đáng sống. Phần lớn các trường hợp trầm cảm có khuynh hướng trở thành mạn tính và tái diễn cũng như phục hồi không hoàn toàn giữa các giai đoạn.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Doãn Phương – Viện trưởng viện sức khoẻ Tâm thần Quốc gia, trầm cảm là một rối loạn phổ biến trên thế giới.

Theo một nghiên cứu của WHO, có xấp xỉ 298 triệu người mắc trầm cảm trong năm 2010 (chiếm 4,3% dân số toàn cầu). Tỷ lệ mắc trầm cảm giữa các nước, các khu vực trên thế giới có sự khác nhau, từ 3% ở Nhật Bản cho đến 17% ở Mỹ.

Trầm cảm có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là 18 - 45 tuổi, phụ nữ nhiều hơn nam giới. Hội chứng này gặp tỷ lệ cao ở những người ly thân, ly dị, thất nghiệp, sống độc thân; mất mát người thân; thiếu sự hỗ trợ chăm sóc từ xã hội, cộng đồng; tiền sử gia đình có người bị trầm cảm; lạm dụng rượu và các chất ma túy; thay đổi môi trường sống, thay đổi công việc; bị lạm dụng thể chất, lạm dụng tình dục; xung đột cá nhân trong các mối quan hệ hoặc có các bệnh cơ thể mạn tính.

Đặc biệt, phụ nữ có nguy cơ mắc trầm cảm nhiều hơn nam giới 2 lần, ở người phụ nữ: sự thay đổi hormon ở lứa tuổi dậy thì, trong chu kỳ kinh nguyệt, giai đoạn mang thai, bị sảy thai, giai đoạn mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ trầm cảm.

Nguy cơ mắc trầm cảm cũng tăng với các bệnh lý thần kinh, tim mạch kèm theo như đột quỵ, parkinson.

Cũng theo chia sẻ của Thạc sĩ Nguyễn Doãn Phương, người mắc bệnh trầm cảm thường có các biểu hiện: Cảm giác buồn chán, trống rỗng; khó tập trung suy nghĩ, hay quên; luôn cảm giác mệt mỏi, không muốn làm việc gì; cảm giác mình có tội lỗi, vô dụng, không xứng đáng; mất ngủ, hoặc ngủ quá nhiều; hay cáu gắt, giận dữ; giảm thích thú trong các hoạt động hoặc sở thích hàng ngày; giảm cảm giác ngon miệng, sụt cân hoặc ăn quá nhiều; nghĩ về cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát; ngoài ra, nhiều bệnh nhân trầm cảm còn được biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, đau tức ngực, các rối loạn tiêu hóa…

Tuy nhiên, việc điều trị trầm cảm gặp rất nhiều thách thức và khó khăn. Phần lớn bệnh nhân trầm cảm đều không được nhận biết và điều trị sớm, nhiều trường hợp bệnh nhân trầm cảm còn kỳ thị hoặc biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể nên đến khám tại các chuyên khoa khác trước khi đến khám tại chuyên khoa tâm thần.

Vì vậy, đa số bệnh nhân trầm cảm thường chậm trễ trong việc phát hiện và điều trị đúng chuyên khoa. Vấn đề khó khăn khác là điều trị trầm cảm cần phải kéo dài, việc dùng liệu pháp hóa dược đôi khi có thể có tác dụng không mong muốn, bản thân bệnh nhân và gia đình người bệnh không tuân thủ, bỏ điều trị.

Trong thực tế điều trị, hơn 50% bệnh nhân có nguy cơ cơn tái diễn sau cơn thứ nhất, tỷ lệ này tăng dần lên đến 70% sau cơn tái diễn thứ 2 và sau cơn tái diễn thứ 3 là 90%. Một số thuốc chống trầm cảm đạt được mức độ đáp ứng điều trị bệnh nhưng khi đó bệnh nhân vẫn còn các triệu chứng gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động khác.

Một thuốc điều trị chống trầm cảm lí tưởng bên cạnh cân bằng giữa hiệu quả và tác dụng phụ, còn giúp bệnh nhân phòng ngừa tái diễn, tái phát, giải quyết các triệu chứng còn tồn tại sẽ đáp ứng những trăn trở trong điều trị trầm cảm.

Mục tiêu của điều trị trầm cảm nhằm đạt được đáp ứng điều trị, cải thiện tình trạng bệnh hoặc ổn định bệnh là không còn các triệu chứng càng sớm càng tốt, khi đó có thể duy trì các chức năng xã hội cho người bệnh và tiến tới hồi phục hoàn toàn.

“Trầm cảm là một rối loạn rất phổ biến trong dân số, nhưng chỉ có tỷ lệ thấp được phát hiện và điều trị theo đúng chuyên khoa. Tuy nhiên, rối loạn trầm cảm là rối loạn có thể chữa được để bệnh nhân ổn định và tái hòa nhập với xã hội, nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời với sự hợp tác của người bệnh, gia đình và cộng đồng để bệnh nhân tuân thủ điều trị.

Việc phát hiện và điều trị trầm cảm cần có sự phối hợp của tất cả các chuyên khoa, và cần sự hỗ trợ từ phía gia đình của người bệnh cũng như từ cộng đồng.

Bản thân người bệnh cũng hãy chủ động trò chuyện với những người thân xung quanh khi thấy mình có các dấu hiệu của bệnh trầm cảm.

Như vậy, nếu tất cả cùng chung tay giúp sức, chúng ta sẽ giúp rất nhiều bệnh nhân trầm cảm được phát hiện và điều trị sớm, từ đó giúp người bệnh có cuộc sống ổn định, tốt đẹp hơn, cũng như giúp cho xã hội phát triển và tốt đẹp hơn”, Thạc sĩ Nguyễn Doãn Phương nhấn mạnh.

Theo một nghiên cứu khác ở Mỹ, năm 2014, có khoảng 17,6 nghìn người bị trầm cảm mỗi năm, nhưng có tới hơn 2/3 người bị trầm cảm không nhận ra mình có bệnh và không được điều trị. Chỉ có khoảng 20% những bệnh nhân này được điều trị đúng chuyên khoa và đúng phác đồ. Điều đáng báo động là có tới 48% những người trầm cảm có ý tưởng tự sát và 24% những người toan tự sát được báo cáo là không nhận được sự hỗ trợ điều trị trước đó.

Nguyễn Huệ

Theo http://www.nguoiduatin.vn

TTHPRESS_CONTENT_MODIFIED2017-04-05 23:03:02

TTHPRESS_LEAVE_A_COMMENT


Bình luận qua Facebook